May mà thiếu Nho!

24/06/2017 - 22:05 PM
Ai cũng nói tính cách người Nam bộ nói chung và người Sài Gòn nói riêng là phóng khoáng, tự do, hào hiệp, ngay thẳng, bao dung và sáng tạo. Những tính cách ấy được hình thành và nuôi dưỡng suốt theo chiều dài hơn 300 năm mở đất và dựng người.

Rất nhiều yếu tố góp phần tạo nên tính cách đó như đất đai mầu mỡ, khí hậu ôn hòa, giao thông thuận lợi, nhưng có một điều vô cùng quan trọng là vùng đất này không phải gánh bất kỳ một di sản tư tưởng triết học hay tôn giáo nào được coi là chủ đạo, đặc biệt là những di sản tư tưởng từ phương Bắc.

Việt Nam nói chung là một trong số các quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Hán hóa và Nho giáo. Nho giáo có nhiều điểm tiến bộ song cũng phải ghi nhận những nguyên tắc rất cứng nhắc và xơ cứng của nó trong hệ thống cương thường của quốc gia. Bên cạnh việc tạo ra trật tự xã hội thì Nho giáo cũng tạo ra một biên giới hạn chế sự sáng tạo cá nhân, năng động và cởi mở xã hội, cũng như tạo ra một bầu không khí ngột ngạt mà nhiều người gọi là “tù đọng”. Có lẽ vì sự hạn chế của nó tới “hiện đại hóa” mà ở Trung Quốc, quê hương của Nho giáo, đã không ít lần chính giới cầm quyền tiến hành các chiến dịch tẩy chay Nho giáo. Tình hình này cũng đã nhiều lần diễn ra ở Nhật Bản và Hàn Quốc dưới nhiều hình thức khác nhau như phê phán Nho giáo, cải tiến chữ viết.

Một trong số các nguyên nhân sâu xa khiến vùng phía Bắc Việt Nam trong một số giai đoạn lịch sử chậm phát triển là do sự chi phối khá nặng nề của Nho giáo. Còn Nam bộ là một xã hội mở, có khá nhiều loại học thuyết du nhập vào đây, nhưng may mắn là không một học thuyết chính trị nào vào đây một cách hoàn hảo, mà nó chỉ đến với từng mảnh nhỏ rồi bị “Nam bộ hóa”, sau khi trải qua một tiến trình chọn lọc theo hướng “động” hơn là “tĩnh”. Điều này cũng thấy ngay cả trong các tư tưởng tôn giáo, mà điển hình nhất là Cao Đài và Hòa Hảo.

         

Những người Việt đầu tiên đến vùng đất này nói cho cùng là những người từ phía Bắc di cư đến nhưng đa phần là những người lính, những người lao động tự do không chịu được sự hà khắc của xã hội phong kiến ngột ngạt, kể cả những người bị truy nã, do vậy mà trong hành trang của họ chỉ là sự khao khát đi tìm vùng đất mới, chứ chả có được chút sách “thánh hiền” nào.

Sự ảnh hưởng thấp của Nho giáo là một thuận lợi cho phát triển. Luận điểm này đã được các nhà khoa học kết luận. Người đọc có thể tìm thấy những tư tưởng này trong Địa chí văn hóa TP.HCM, trong các tác phẩm và bài viết của GS. Trần Văn Giàu, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, GS. Đỗ Thái Đồng, nhà văn Sơn Nam...

Họ thống nhất rằng ở Nam bộ nói chung, và Sài Gòn nói riêng mức độ ảnh hưởng của Nho giáo rất yếu và càng về sau theo dòng thời gian càng nhạt dần ở các thế hệ trẻ. GS. Trần Văn Giàu có viết rằng: “So sánh với Trung, Bắc, với Huế, Hà Nội thì Gia Định-Sài Gòn là đất mới của Tổ quốc. Người vào Nam khai hoang lập ấp hầu hết là người nghèo khổ dốt nát, đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đạo đức làm dân làm người mà không thuộc kinh truyện” (Địa chí văn hóa TP.HCM).

Từ thế kỷ XVI, trong số những người Nam tiến vào thời “khai sơn phá thạch” đó không có mấy bóng dáng nhà nho, nếu có thì chỉ là những nhà nho nghèo thất cơ lỡ vận ở Bắc và Trung bộ. Điều quan trọng hơn cả là điều kiện sống lúc bấy giờ cũng buộc chính họ phải thay đổi cách thức tư duy và hành động, bởi lối tư duy hàn lâm của các nho gia không phù hợp với mảnh đất này.

Do phải đối mặt với vùng đất còn hoang dã nguyên sơ với ngút ngàn rừng rậm, cá sấu, muỗi mòng, rắn rít, do phải đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại mà người dân ở vùng đất mới này không cần và cũng không quen với kiểu tư duy nho học.

Những người dân ở Nam Kỳ Lục tỉnh có lập trường tư cho con em mình và những ông thầy thường là đồ nho thất vận ở miền Bắc và miền Trung vào, nhưng các bậc túc nho này được mời không phải để dạy Tứ thư Ngũ kinh cho con em họ đi thi đỗ đạt làm quan, mà chủ yếu học để biết chữ, học để làm người.

Trong một nền văn hóa phi Hán hóa và tiếp xúc với các nền văn hóa ở Nam Á, gia đình Nam bộ cũng trở nên uyển chuyển hơn để tiếp nhận những thay đổi xã hội Nam bộ có mức dồn dập hơn ở Bắc bộ. Ảnh: Andy Lê

Trong một công trình nghiên cứu có tên Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam bộ Việt Nam, GS. Đỗ Thái Đồng khẳng định: “Càng di chuyển vào phía Nam, người Việt càng gặp nhiều hơn những nền văn hóa phi Hán hóa”. Ông còn nói thêm: “Quả thật chỉ ở đất Nam bộ người ta mới tìm thấy sự đoạn tuyệt hoàn toàn với những nguyên lý cơ bản của học thuyết chính trị - đạo đức của Nho giáo... Trong một nền văn hóa phi Hán hóa và tiếp xúc với các nền văn hóa ở Nam Á, gia đình Nam bộ cũng trở nên uyển chuyển hơn để tiếp nhận những thay đổi xã hội Nam bộ có mức dồn dập hơn ở Bắc bộ”.

Thật không công bằng và thiếu khách quan nếu nói rằng Nam bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng hoàn toàn không có một chút ảnh hưởng nào của Nho giáo. Có ảnh hưởng, nhưng không nhiều và sự ảnh hưởng đó đã bị biến thái đi rất nhiều theo dòng thời gian và trong những điều kiện mới, hoàn cảnh mới.

Sự biến thái đó không phải chỉ so sánh với nơi sinh ra nó mà so sánh với cả miền Bắc và miền Trung. Những người Việt đầu tiên đến vùng đất này nói cho cùng là những người từ phía Bắc di cư đến nhưng đa phần là những người lính, những người lao động tự do không chịu được sự hà khắc của xã hội phong kiến ngột ngạt, kể cả những người bị truy nã, do vậy mà trong hành trang của họ chỉ là sự khao khát đi tìm vùng đất mới, chứ chả có được chút sách “thánh hiền” nào.

Sự ảnh hưởng mờ nhạt của Nho giáo và mạnh hơn của Phật giáo trong đời sống xã hội được ghi dấu ấn không chỉ trong văn học, nghệ thuật mà trong cả đời sống thường ngày, thực sự có khá nhiều người miền Nam trong nhà có đủ cả hoành phi, câu đối viết bằng chữ nho nhưng họ không biết nội dung viết cái gì, mà họ cũng chả cần biết miễn là cho đẹp và đủ món như người ta. Hiện giờ cũng vậy, vào dịp Tết đến, nhiều người đến đường Hải Thượng Lãn Ông ở Chợ Lớn mua chữ Tàu treo cho vui mắt mấy ngày đầu xuân sau khi hỏi sơ sịa người bán chứ mấy ai rành rẽ nội dung...

Trong lịch sử Nam bộ có ghi nhận dòng họ Mạc là người Quảng Đông, Trung Quốc di cư đến và có công lao khai phá và xây dựng Hà Tiên, và chính ông cũng là người đầu tiên có công lao truyền bá Nho giáo ở phương Nam, nhất là vùng đất Hà Tiên, nhưng thật thú vị là dòng họ Mạc cũng không bê nguyên xi các nguyên tắc cứng nhắc và phức tạp của Nho giáo đến đất này. Ngay tại Sài Gòn, nơi có cộng đồng người Hoa lớn nhất cả nước với gần nửa triệu dân, nhưng những giá trị lõi của Nho giáo cũng phai nhạt đi nhiều. Có thể không quá khi nói rằng càng đi về phương Nam mức độ Hán hóa càng thấp và đó chính là cái may mắn cho thành phố Sài Gòn hôm qua và TP.HCM hôm nay trên con đường đi tới.

Tương tự, trong bối cảnh văn hóa - xã hội như thế, những quy tắc, luật lệ mang tính quy phạm chặt chẽ, và khắt khe của luật lệ do các triều đại phong kiến đặt ra cũng khó phát huy tác dụng ở đất Nam bộ. Chẳng hạn các điều luật về đất đai, tô tức, gia phong do triều đình nhà Nguyễn định ra khó mà được lưu hành rộng rãi và tuân thủ nghiêm minh, nếu có phần nào thì cũng được vận dụng một cách linh hoạt và mềm dẻo. Những quy định “thứ bậc” chặt chẽ, các định chế “trung quân” mù quáng rất hiếm thấy ở vùng đất này, trong khi chúng được đề cao và khá phổ biến ở Bắc Hà và Huế.

Không chỉ một lần và rất nhiều lần, cố GS. Đỗ Thái Đồng, một học giả uyên thâm nói cái may lớn nhất của Sài Gòn là không phải luẩn quẩn trong mớ tư tưởng Nho giáo trói buộc cả tầng lớp lãnh đạo, giới trí thức, lẫn người dân.

Nguyễn Minh Hòa

» Kinh tế thị trường Sài Gòn thuở ban sơ

» Tìm lịch sử trong ký ức nhân quần

» Sài Gòn và siêu thị đầu tiên ở Việt Nam

» S và S: Cuộc đua 50 năm

Viết phản hồi
(*)
(*)
Nội dung
CÁC TIN KHÁC