Những đứa con hoang của mùa hè thành thị

10/05/2017 - 17:06 PM
Liệu có còn một người Việt Nam vào tháng Tư năm ấy tự vấn để ngừng bước đổ xô nhau xuống tàu: Sao không ở lại?

Nén nhang sầu cho Cẩm Anh

Thành phố điềm nhiên trôi qua tháng Tư, êm như một cú dằn nhẹ dưới chân mỗi dốc cầu. “Tôi ý thức được những cú dằn nhẹ cuối mỗi dốc cầu này, như một đặc sản vô hình của Sài Gòn trong một lần xuyên vùng Thượng-Hạ Peninsulas, Michigan, khi hoang mang bừng tỉnh khỏi giấc ngủ lơ mơ trên xe lúc qua khỏi cầu Mackinac...”.

Ngài Giáo Sư lơ mơ tiếp tục của mình bằng những dòng chữ không bỏ thanh, tôi có thể mường tượng thứ tiếng Việt đã bị pha nhạt âm sắc ngũ cung với các thanh trầm tuyệt đẹp thuần chủng của dân Bắc di cư. Âm sắc nọ giờ ắt đã được pha loãng như món phở nấu cho người Mỹ đã được gia giảm thành một món fusion hương xa, mà với khẩu vị bản xứ đã thành thứ món bánh phở công nghiệp chan nước sôi.

Những hạm tàu há mõm... cái cụm từ hàm ý về những nhân khẩu của một gia đình Việt Nam đông con, cái thập giá đầy áp lực lên vai người đàn ông truyền thống, mà chỉ người Bắc di cư hiểu rõ nhất.

“Sau hiệp định, gia đình tôi từ Nam Định chọn hướng Hải Phòng, lên tàu há mõm vô Nam. Cái mõm tàu mở to, nuốt vô bụng nó đàn người di dân, trẻ con có đứa ngồi trên thúng mủng quang gánh, người bà gánh cháu di cư, đầu vấn khăn nhung, cổ đeo thánh giá. Thằng anh túm đuôi áo bà không buông, đứa bé hơn ngồi trong thúng, được dặn giữ chặt trong tay hai bức ảnh, một tấm hoạ lại tranh Đức Mẹ Hằng cứu giúp, và bức di ảnh của ông nó. Tất cả những gì thân mến nhất mang theo, miền Bắc ở lại sau lưng. Cha mẹ chúng không về kịp, bà cụ dứt khoát quang gánh trên vai, mang theo hai đứa cháu nhỏ”.

Ông không bao giờ gặp lại song thân từ đó.

Ấm thân chưa bao lâu nơi quê mới, hoa mộng đầu đời là những buổi chiều với cuốn sách triết học dày cộp mà tâm trí cứ mụ mị bởi mùi sáp xức tóc của Cẩm Anh - cô con gái ông chủ tiệm, và cơn lốc quân dịch quét ngang tuổi hoa niên thì mùa hạ cuối đã kịp đỏ lửa theo từng tin chiến sự cứ chậm chạp từng ngày kề sát thành đô.

Những chợ trời xuất hiện sau 4.1975 tại Sài Gòn. Ảnh TL

“Ban đầu là bằng âm thanh, của những bản tin trên radio. Dân Sài Gòn vặn radio ở bất cứ đâu, với sự hiếu kỳ tới mức điềm tĩnh, bàng quan, như thể Chúa trời sẽ luôn bảo bọc họ trong một bầu không khí vô can với mọi cuộc điêu tàn ngoài kia. Cho đến khi những bại binh đầu tiên xuất hiện bơ phờ trên đường quốc lộ, và đường chân trời nửa đêm đã hừng hực đỏ. Giống như cơn tràn của dung nham núi lửa, tưởng như di chuyển chậm chạp, nhưng có thể chớp mắt nuốt trọn cả một nền văn minh...”.

Người ta xô nhau chạy theo bất kỳ một lối ngả nào được mách bảo, hàng loạt tướng tá lẳng lặng vận thường phục xuống bến Bạch Đằng, đám tàn quân tháo chạy xuống đường Ô Cấp. Phút cuối cùng, nỗi ám ảnh của chiếc hàm mở rộng nuốt trọn thêm một lần nữa một cuộc đại di cư khiến ông quyết định một tay dắt Cẩm Anh, một tay xách valise quay về.

“Không lẽ lại cứ đi? Đi mãi rồi còn nơi nào để đi nữa không? Dân tộc này sao cứ trôi dạt đi như lời nguyền Huyền Trân? Chắc bà công chúa ngày xưa ôm hận bởi bị ép duyên, hay một lời nguyền bí ẩn nào đã được cay đắng thư ếm xuống thịt da mảnh đất này từ thảm trận Đồ Bàn? Liệu có còn một người Việt Nam vào tháng Tư năm ấy tự vấn để ngừng bước đổ xô nhau xuống tàu: Sao không ở lại?”.

Câu trả lời đến chóng vánh hơn ông tưởng. Lớp tư sản, trí thức tinh hoa, chỉ sau một đêm, cởi bỏ những lớp dạ phục thượng lưu và bán lại từng mảnh tàn tích hào hoa trên vỉa hè của thành đô chỉ mới hôm qua còn gõ gót kiêu ngạo của những chủ nhân ông.

Ngày ông bán đi đến tận chuỗi thánh giá của bà nội là ngày ông thúc thủ trước lời nguyền, âm thầm mua vàng trao cho chủ thuyền.

“Một khi đã quyết đi, thì lại như một cơn say máu bạc. Tôi thua canh bạc đó tổng cộng đếm được năm lần. Dưới tận tầng đáy của tuyệt vọng và hoảng loạn, những kẻ xu thời vẫn còn giữ được sự tỉnh táo khốn nạn sau cùng sẽ quay qua cắn xé lẫn nhau vì vài khâu vàng. Tôi cạn cùng tới chỉ vàng sau cuối, vừa ra trại lại cay cú nhập cuộc cho đến khi nhìn thấy đất liền thì hồn phách lẫn liêm sỉ cũng đã khô cong vì muối biển...”.

Tôi thẫn thờ chào tạm biệt Ngài Giáo Sư, đóng ô đàm thoại, tắt màn hình.

Trong mơ, tôi vẫn nhìn thấy hình ảnh Ngài Giáo Sư, tóc chưa trổ bạc, phát hiện ra những vết cắt xẻ “bất thường” trên thi thể còn thơm mùi sáp bôi tóc. Người đàn ông cuồng nộ thả cái xác trả về cho lòng đại dương với một kỳ vọng điên cuồng rằng nước muối sẽ rửa sạch cho thi thể Cẩm Anh, chỉ hơn nửa giờ đồng hồ trước khi nhìn thấy đất liền.

Ả Mỹ lai cuối cùng và lời nguyền màu xanh lơ

Người đàn bà tướng tá như hộ pháp nghiến chặt đót thuốc nham nhở son giữa hai kẽ răng, đôi mắt đục ngầu không lu mờ nổi một màu xanh lơ trong vắt đến kỳ lạ, như mắt mèo.

Tiếng chửi đệm vụt ra giữa hai kẽ răng ấy cùng với một sợi khói màu lam: “Mẹ! Cơm ăn hổng có tao rảnh dữ mà kiếng áp tròng này nọ. Giờ bây nhắm có nhiêu tiền mua đi, tao móc ra bán luôn”.

Cái màu xanh quỷ quyệt như lời nguyền ám vào phần số người đàn bà lai. Trong thời Mỹ, có một bà mẹ là gái bán bar chửa hoang cũng đã đủ để đứa trẻ nghiễm nhiên đứng ngoài mọi ưu ái của cộng đồng. Chúng tụ tập nhau lại, những đứa trẻ chửi thề leo lẻo bằng đúng chất giọng Sài Gòn, nhưng có những mái tóc vàng, hay những đứa tóc quăn, da dẻ nhôm nhoam một màu đen lờ nhờ pha máu da vàng, và những tròng mắt trắng dã lồ lộ, hay những đôi mắt xanh ngắt như bằng thuỷ tinh. Lệ thừa hưởng toàn bộ nét Á Đông của người mẹ, từ làn da nâu giòn, đôi môi dày đã thâm xỉn bởi khói thuốc luôn được ngụy trang bằng lớp son thoa bạo tay. Tất thảy cái hợp hình Á Đông thâm xì ấy chỉ khiến càng lộ rõ sự bất nhất quái lạ của đôi tròng mắt xanh lơ. Chúng loé lên một cách tai quái ngay dưới cái nắng ban ngày như thể đôi mắt mèo hoang ánh lên man dại trong đêm.

Lệ lớn lên như cái cây non hoang dã, như một đứa con rơi, mà theo lối phát âm miền Nam, thì cũng như một con dơi. Sinh vật nửa chim nửa chuột thô kệch giữa lòng hỗn mang Sài Gòn. Một bộ mặt quá thuần chủng Á Đông giữa tụi nhóc Mỹ lai, nhưng lại là một đôi mắt xanh khiến Lệ giống một quái thai dị hình giữa những đôi mắt đen của tụi con nít “bình thường”. Nó cứ trôi đi, lênh đênh vờ vật giữa những đứa trẻ lai và những đứa trẻ bình thường, lê la bên quầy thuốc lá của bà ngoại trước cửa rạp cine kế tiệm kem Bạch Đằng. Lệ ngắm những người đàn bà có đôi mắt được vẽ bằng màu bột trên những tấm áp-phích quảng cáo cho những cô đào Tây mà hoạ sĩ đã chọn có lẽ sắc xanh tinh tuyền nhất để vẽ nên, màu xanh y hệt áo Đức Bà Đồng trinh - màu xanh hòa bình.

Với nó, lại là màu xanh của một lời nguyền lưu vong từ khi lọt lòng mẹ.

Có bận, Lệ mới 12 tuổi mà đã bự con dềnh dàng hơn tụi con nít cùng tuổi, một gã ma cà bông tạt vô mua bao thuốc, hất hàm hỏi ngoại nó “Má Hai, nhỏ này con ai vậy?”, ngoại nó tỉnh rụi hất hàm trỏ ngón tay về phía tấm poster. Má nó, một ngày nào đó trước khi nó kịp có ký ức, đã không về sau một đêm đi khách mà cả tháng trời sau đó, ngoại nó mới chịu thừa nhận là đứa con gái hoang đàng, trụ cột kinh tế của gia đình hai người đàn bà đã “một đi không trở lại”.

Nó đi theo gã ma cà bông từ đó, ngô nghê làm đàn bà, cho gã và cho bất kỳ gã đàn ông nào nổi nhã hứng với đôi mắt màu thủy tinh kỳ lạ trên khuôn mặt Á châu đó. Nó cũng chẳng thể nhớ đâu là người đàn ông thật sự đầu tiên.

Lệ, 15 tuổi, lại trôi đi, ngô nghê hoang dã, trên yên xe 67 của gã ma cà bông, giữa những người đàn ông người Việt, người da trắng, những gã xích lô trẻ, những gã híp-pi áo chim cò... Và cảm thức của ả về sự chuyển mình của thời cuộc tháng Tư chỉ được đánh dấu bằng cuốc dù với một đại diện của lực lượng tiếp quản.

 Ảnh Philip Jones Griffiths

Gã ma cà bông cũng lẳng lặng cho ả rơi từ lúc nào. Lần cuối đi ngang sạp thuốc lá của ngoại, “bả” ngoắc vô, có lẽ là lần đầu tiên ả nhận một cử chỉ âu yếm của người thân thích duy nhất trên đời.

“Bả chỉ gom đủ cho mình bả đi, còn mình đâu có biết đi thì xin đi ở đâu đâu. Ra đường hoài có ngày bị hốt vô ăn cơm trại, bà già để lại cho cái tủ thuốc với mối khách thì ra bán cho yên thân”.

Ả bán thuốc lá, bao cao su, và cả bồ đà, cho đến khi dân bồ đà tăng đô chuyển hệ xì-ke và dần dần biến mất trên vỉa hè Lê Lợi, được đánh dấu bằng gã khách quen mặt nằm còng queo từ sáng trên vỉa hè. Gã đã chết cứng từ lúc nào khi người ta phát hiện ra vào đầu giờ chiều, cùng với số tiền mua chịu thuốc của ả.

Lệ gom góp được đủ để vong thân theo một chiếc tàu với hàng trăm mạng người trên đó, với hai chỉ vàng may cẩn thận vào viền trong chiếc áo lót sau khi đã chồng tiền cho chủ tàu. Ả ngô nghê ra đi trong cuộc viễn phương phi nghĩa.

Không có một thân nhân hay một đứa bạn lai nào đủ thân để cho ả biết rằng ả hoàn toàn đã có thể ra đi một cách đường hoàng có trật tự như những đứa con hoang của chiến tranh còn rớt lại.

Cứ vậy, ả đi...

Người đàn bà thoăn thoắt múa thanh giấy nhám lên những đầu móng chân của tôi cho đến khi chúng sáng bóng lên, đều chằn chặn. Đôi mắt xanh như mắt mèo cụp xuống, trả lại cho khuôn mặt toàn vẹn nét bản địa Á Đông.

Chuyến hải hành vĩ đại nhất cuộc đời ả con lai cũng lỡ cỡ như dòng máu lai của ả. Chủ tàu móc ngoặc với biên phòng, mớ người nằm xâm xấp trong hầm tàu chỉ biết điều này khi chưa biết vị mặn hải phận quốc tế thì đã bị lôi lên, từng nhóm một, ngay trong đêm.

Lệ ra trại, lại lê lết về đúng cái vỉa hè cũ. Không còn sạp thuốc “thừa hưởng”, chỗ bán cũ cũng bị mặt rô thu hồi lại cho người khác buôn bán. Hai chỉ vàng may mắn giấu êm xuôi trót lọt trong chiếc áo lót bẩn thỉu đã giúp ả lây lất lại từ đầu, bên lề thành thị. “Thời Mỹ cũng đâu được học hành gì, tới lúc được đi thì giấy tờ, thân nhân không có. Vượt biên thì như đi Cấp nghỉ mát vậy đó, rồi vô trại nằm chờ thả. Đi đâu chi cho mệt, đằng nào cũng có biết tiếng Mỹ đâu, qua bển đi ăn mày chắc Mỹ nó cũng không hiểu mà cho đô la”.

Lệ lại cắm dùi lên thân thể Sài Gòn, cái thân thể phồn thực mà chiếc vòi của loài côn trùng đã quen với nguồn dinh dưỡng của nó kể từ khi hoang dã sinh ra và hoang dã trở thành đàn bà. Bất kể điều gì, kể cả ăn xin hay bán máu trước cổng nhà thương.

“Xin việc thì khó lắm, cái mắt xanh lè, xí nghiệp nhà nước người ta đâu có nhận. Được thằng bồ cặp đại có bầu, nó cũng mê, muốn cưới thì nhà nó ngó cặp mắt chê mai mốt sinh con ra trông như lai Mỹ...”. Đến một vết xăm trong tù, ả cũng không biết viết gì lên đó, ngoài một chuỗi con số ghi dấu ngày ả sinh con. “Để sau này khỏi quên” - ả cộc lốc giải thích cho vết xăm nham nhở màu chàm trên cánh tay.

Người đàn bà cúi thấp hơn tới mức đầu thuốc cháy đỏ gần chạm vào bàn chân khách. Lần này, cả khuôn mặt với những nét Á Đông thuần chủng cũng đã bị che khuất hoàn toàn dưới làn khói lam và mái tóc vàng ệch vì nhuộm đã lâu, đã lộ chân sợi bạc.

Tôi nhìn qua gã thanh niên chạy xe ôm đang lầm lì ngồi gần đó, cái gà mên nhôm đựng bữa trưa cho người đàn bà lai treo trên guidon: đôi mắt gã đen như mắt tôi, mắt bất cứ người Việt Nam nào khác.

Lệ ngửa mặt thở hắt, tuôn theo một làn khói lên trời, đôi mắt xanh như mắt mèo trong vắt: “Ba nó nghe đâu qua bển, cuối cùng lấy con vợ giang hồ người Mễ, không đẻ được. Nhưng tóc con vợ nó đen, mắt nó cũng đen...”.

- Sao không liên lạc cho nhà nó hay có đứa cháu đích tôn mắt đen? Biết đâu...

Người đàn bà lai điệu nghệ búng đót thuốc xuống vỉa hè bên ngoài tiệm tóc, ít nhiều cao ngạo trong chút khí phách bụi đời lâu năm:

- Ối, ham mẹ gì, ở đây cũng được mà. Qua bển người ta nói toàn tiếng Mỹ, chúng chửi cũng không biết đường chửi lại, ham gì!

Trác Thúy Miêu 

Cùng tác giả:

 >> Những nốt vàng ngủ tạm...

» Những gánh hát du canh

» Điểm Một Thời - Sắc và Thần của một gia chủ

» Bolero trên đỉnh mùa Đông

» Những kẻ lãng mạn can trường

» Nhạc trẻ Sài Gòn và những mùa hè vô tận

» Đặc sản mùa mưa

» Những chầu khóc cuối tuần

» Hành trình thứ nhất: Sài Gòn, đêm giữa âm dương

» Hành trình hồi ức thứ hai: Những thị dân thú vị

» Dạ tiệc phồn hoa

» Vọng Sài Gòn

» Mùi thị dân

» Mì tôm sợi vắn sợi dài…

 

Viết phản hồi
(*)
(*)
Nội dung
CÁC TIN KHÁC