35 năm thành lập Tổng hội Xây dựng Việt Nam:

Hội đồng Điều phối xây dựng châu Á vinh danh thủy điện Lai Châu

06/05/2017 - 22:40 PM
Tổng hội Xây dựng Việt Nam đã lựa chọn, giới thiệu một số dự án cho Hội đồng Điều phối xây dựng châu Á (Asian Civil Engineering Coordinating Council - ACECC). Tại Hội nghị khoa học lần thứ 7 của ACECC, dự án thủy điện Lai Châu đã được trao tặng giải thưởng “Dự án xây dựng” xuất sắc năm 2016. Nhân dịp 35 năm thành lập Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Người Đô Thị giới thiệu giải thưởng danh giá này.

Trong chuyến công tác tại Lai Châu tháng 3.2017, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và đoàn công tác của Quốc hội đã đến thăm các cán bộ, kỹ sư, công nhân và trồng cây lưu niệm tại nhà máy thủy điện Lai Châu.

Bà Kim Ngân bày tỏ sự vui mừng khi chứng kiến thủy điện Lai Châu là công trình đa mục tiêu mang tầm vóc quốc gia được các kỹ sư, công nhân Việt Nam tự chủ từ khâu quy hoạch, thiết kế, thi công xây lắp, đồng bộ thiết bị, giám sát, quản lý vận hành.

“Chính sự lao động miệt mài, sáng tạo, trí tuệ và đầy nhiệt huyết của các bạn đã làm nên một công trình thủy điện lớn, hiện đại, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, tỉnh Lai Châu nói riêng”, Chủ tịch Quốc hội ghi nhận.

Thủy điện lớn thứ ba Đông Nam Á

Thủy điện Lai Châu khởi công ngày 5.11.2011. Sau gần 2.100 ngày làm việc, công trình thủy điện lớn thứ ba Đông Nam Á này khánh thành ngày 20.12.2016 tại huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, hoàn thành sớm một năm so với nghị quyết của Quốc hội.

Dự án cuối cùng trong ba dự án thủy điện lớn trên dòng chính sông Đà. Ảnh EVN

Với tổng mức đầu tư 35.700 tỷ đồng, thủy điện Lai Châu là công trình xây dựng cấp đặc biệt và là dự án cuối cùng trong ba dự án thủy điện lớn trên dòng chính sông Đà. Hai nhà máy thủy điện lớn đang vận hành là Sơn La (2.400MW) và Hòa Bình (1.920MW). Thủy điện Lai Châu (1.200MW) nằm ở đầu nguồn dòng chính Sông Đà, có nhiệm vụ trọng tâm cung cấp điện lên hệ thống điện quốc gia, với sản lượng trung bình hàng năm đạt khoảng 4,7 tỷ kWh; chống lũ về mùa mưa, cung cấp nước mùa khô cho đồng bằng Bắc bộ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc.

Có khoảng 10.000 cán bộ, kỹ sư và công nhân đã tham gia xây dựng thủy điện Lai Châu. Đập bê tông đầm lăn thủy điện Lai Châu có khối lượng 1.886.000m3; chiều cao đập lớn nhất 142m, dài 493,5m, sử dụng vật liệu chính là bê tông đầm lăn. Đây là một trong những đập có tốc độ nâng đập lớn nhất thế giới.

Sự kiện hoàn thành sớm một năm so với nghị quyết Quốc hội và cả ba tổ máy phát điện sớm hơn ba tháng so với yêu cầu của Chính phủ, đã cung cấp sớm hơn cho hệ thống điện quốc gia khoảng 4,7 tỷ kWh điện năng, làm lợi khoảng 5.000 tỷ đồng cho ngân sách, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc của các cán bộ, kỹ sư, công nhân ngành điện, ngành lắp máy Việt Nam.

Công trình lớn do Việt Nam tự thiết kế, thi công

Trao đổi với Người Đô Thị, GS-TSKH. Phạm Hồng Giang - Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam cho biết thủy điện Lai Châu đã được nhận giải thưởng “Dự án xây dựng” xuất sắc tại CECAR7 ở Hawaii (Hoa Kỳ) theo đề cử của Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Lý do đề cử có thể tóm tắt, đây là dự án thủy điện lớn với công suất 1.200MW, đập được xây dựng bằng bê tông đầm lăn (RCC) cao nhất tại Việt Nam (142m), góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tập thể chuyên gia, kỹ sư, công nhân Việt Nam đã hoàn toàn tự mình làm chủ công nghệ mới ứng dụng trong thiết kế 3D, có tính toán giải pháp kháng chấn đảm bảo an toàn trong vùng động đất mạnh ở nước ta, xây dựng đập RCC đạt tiến độ lên đập cao (27,3m/ngày), cải tiến hạng mục tràn xả lũ, sử dụng trạm phân phối điện GIS...

Thủy điện Lai Châu cung cấp sản lượng điện 4,7GWh mỗi năm. Ngoài việc phát điện, hồ chứa có dung tích 1,2 tỷ m3 góp phần tăng sản lượng điện tại các bậc thang thủy điện dưới hạ du như Sơn La, Hòa Bình... và điều hòa nguồn nước, giảm nhẹ lũ cho vùng đồng bằng dưới hạ du. “Đây là công trình lớn do Việt Nam tự thiết kế, thi công với nhiều sáng tạo và áp dụng công nghệ mới, vượt qua những khó khăn do địa hình hiểm trở và giao thông nhiều trở ngại, hoàn thành công trình sớm một năm mang lại hiệu quả cao”, GS. Giang nhận định.


GS-TSKH. Phạm Hồng Giang:

Thủy điện phải tôn trọng lợi ích của người dân

Hiện nay người ta đổ lỗi cho thủy điện bởi nhiều lý do, nhưng về bản chất, thủy điện không có lỗi gì. Thế giới đánh giá đây là nguồn năng lượng tái tạo sạch. Ở Việt Nam thủy điện chiếm tới 30 - 35% lượng điện cung cấp. Thử hình dung cứ qua hai ngày thì lại có một ngày bị cắt điện, cuộc sống người dân sẽ bị ảnh hưởng, khổ sở thế nào, rồi phát triển kinh tế - xã hội ra sao... Vai trò của thủy điện trong an toàn năng lượng quốc gia ở nước ta là rất cao. Còn ở thế giới, có những nước như Na Uy có tới 98% nguồn điện là từ thủy điện dù họ có nguồn dầu rất phong phú ngoài biển. Trước đây, họ chỉ chú ý làm thủy điện lớn, còn hiện nay làm vừa và nhỏ. Không đâu có nguồn thủy năng mà người ta lại bỏ qua.

         
          GS-TSKH. Phạm Hồng Giang, Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam; Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam. Ảnh CTV

Về tác động tới môi trường thì công trình thủy điện cũng như các loại công trình hạ tầng khác đều làm thay đổi môi trường; có những thay đổi tích cực, hệ sinh thái có trạng thái cân bằng mới tốt hơn để phục vụ cuộc sống con người, và cũng có nơi có thể có những hậu quả tiêu cực. Phần lớn các hồ chứa, nhất là ở các nước phát triển, đều được khai thác tổng hợp thành nơi nghỉ dưỡng có cảnh quan đẹp và không khí trong lành. Về ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống thì khi chuẩn bị dự án phải nghiên cứu kỹ và có biện pháp chủ động khắc phục.

Ở Việt Nam, các thủy điện lớn (công suất hơn 500MW) không có những biểu hiện đáng ngại. Đó là vì khi thiết kế đã huy động được các chuyên gia giỏi, khi thi công đã lựa chọn các nhà thầu nghiêm túc và có kinh nghiệm, khi quản lý có quy trình được giám sát chặt chẽ để tiến tới sử dụng nguồn nước đạt hiệu quả tổng hợp.

Thế còn thủy điện nhỏ thì sao? Ở các nước, do quản lý tốt nên thủy điện nhỏ không hề gây ra những phiền toái và thiệt hại làm cho người dân ở địa phương phẫn nộ, lên án như ở nước ta. Thực ra, thủy điện nhỏ (mỗi trạm dưới 20MW) có tổng công suất không đáng là bao so với những thủy điện lớn, cũng không đóng góp gì đáng kể cho việc phòng tránh lũ, chỉ có ý nghĩa tận thu thủy năng của các sông suối nhỏ. Nhưng do quản lý kém, nên có rất nhiều lỗ hổng. Các chủ đầu tư đều là doanh nhân chỉ quan tâm đến khâu thu lợi, còn khảo sát, thiết kế thì qua loa, báo cáo tác động môi trường cốt chiếu lệ, không để ý gì đến đời sống của người dân địa phương... Nhiều dự án được ký duyệt ào ào rồi xoay vốn ngân hàng. Làm xong thủy điện là chỉ việc ngồi thu tiền. Lỡ rủi ro tiền thu về không đủ trả nợ thì ngân hàng xếp vào loại nợ xấu, đề nghị Nhà nước trả hộ. Chủ đầu tư thường không biết gì về kỹ thuật xây dựng thủy lợi - thủy điện lại ham rẻ đi thuê, sử dụng những người không đủ kiến thức chuyên môn, thiếu khả năng và trách nhiệm. Năm nào cũng có không ít sự cố về xây dựng thủy điện từ những lỗi kỹ thuật rất sơ đẳng, nhiều khi “cười ra nước mắt”! Cơ quan duyệt dự án và cấp giấy phép xây dựng thủy điện là sở công thương, nhưng thử hỏi ở đó có bao nhiêu kỹ sư đủ trình độ về xây dựng và quản lý thủy điện, trong khi phải thẩm định, kiểm tra, giám sát cả mấy chục nhà máy thủy điện?

Để khắc phục tình trạng này cần phải làm rất nhiều việc. Trước hết phải xây dựng thể chế với những nội dung chặt chẽ, trong đó phân định trách nhiệm rõ ràng và quy định các điều kiện để làm được những trách nhiệm đó. Cần phải làm tốt các khâu từ khảo sát đến quản lý vận hành, có đội ngũ chuyên gia chất lượng giúp đỡ, không cấp phép ồ ạt... Nhu cầu dùng nước là của tất cả mọi người, nên phải hài hòa. Cần chú trọng học tập kinh nghiệm các nước làm rất tốt, rất nghiêm chỉnh, vừa sản xuất điện vừa điều tiết cho hạ du, môi trường bền vững, lợi ích người dân được tôn trọng.

_______________________________

Hội đồng Điều phối xây dựng châu Á (ACECC) là tổ chức liên kết các hội xây dựng khu vực châu Á - Thái Bình Dương. ACECC được chuẩn bị từ Hội nghị quốc tế Xây dựng tại Manila (Philippines) năm 1998 rồi được chính thức thành lập năm 1999, hiện có 13 hội thành viên: Hoa Kỳ, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Úc, Việt Nam, Mông Cổ, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal. ACECC họp Cơ quan chấp hành (ECM - Executive Committee Meeting) 6 tháng/lần luân phiên tại các nước thành viên. Tổng hội Xây dựng Việt Nam đã đăng cai tổ chức ECM tại TP.HCM (2005) và tại Hà Nội (2009). 

Hội nghị khoa học CECAR (Civil Engineering Conference in the Asian Region) được tổ chức 3 năm/lần. Tại các CECAR, ngoài phần trình bày và thảo luận các báo cáo khoa học, còn có vinh danh các dự án và chuyên gia xây dựng vùng châu Á - Thái Bình Dương. Năm 2007, tại CECAR4 ở Taipei, dự án “Đập xà lan tại đồng bằng sông Cửu Long” (GS-TS. Trương Đình Dụ và cộng sự, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) đã được vinh danh. Năm 2016, Dự án thủy điện Lai Châu (KS. Nguyễn Tài Sơn, TS. Phạm Nguyên Hùng và cộng sự, Công ty tư vấn Xây dựng Điện 1 - PECC1) được trao tặng giải thưởng “Dự án xây dựng” xuất sắc tại CECAR7.

Trần Tâm - Lệ Quyên

Viết phản hồi
(*)
(*)
Nội dung
CÁC TIN KHÁC