“Sài Gòn Thăng hoa”

14/05/2017 - 09:51 AM
Cách đây 92 năm, đã có một nhà văn Anh gọi tên Sài Gòn một cách thích thú là “Paris trong rừng” (Paris in the jungle)! Đó là nhà văn Horace Bleackley, một trong những tác giả du ký nổi tiếng của châu Âu (1). Bởi theo tác giả, không ngờ ở miền đất nhiệt đới xa xăm này lại có một thành phố mỹ lệ kiểu Paris!

Đến Sài Gòn năm 1925, trong một tour du lịch nhiều nước (Đông Dương, Malaysia, Singapore, Indonesia và Sri Lanka), cây bút của London lịch lãm nhận xét Sài Gòn có vẻ đẹp độc đáo của nó. Theo ông, vẻ đẹp của Sài Gòn không đến từ tự nhiên bởi nguyên thủy vùng đất này là đầm lầy, không núi non, đất đai xung quanh đều bằng phẳng như “pancake” (2). Vậy mà, tại đây người ta đã tạo ra một đô thị duyên dáng. Vẻ duyên dáng của Sài Gòn không chỉ thể hiện qua những kiến trúc đẹp đẽ mà còn là cách sắp đặt thành phố trật tự, hài hòa. Sài Gòn có một bến cảng nhộn nhịp, bụi bặm nhưng ngay bên cạnh nó lại là những phố xá thương mại sạch đẹp. Thành phố nhỏ nhưng có đủ dinh thự kiểu dáng cổ điển, nhà hát và công viên lớn. Xe cộ, hàng hóa, trang phục người đi trên đường không xa lạ với châu Âu. Phố Catinat sang trọng được tác giả ví như Bond Street của London hay Rue de La Paix của Paris.

Tuy nhiên, tác giả nhận xét Sài Gòn chẳng là gì nếu thiếu cây xanh! Nhiều con đường được cây xanh che phủ, tạo ra những “đường hầm lạnh mát” (cool tunnel) chống đỡ ánh nắng chói chang. Theo Bleackley, chính người Hà Lan và người Anh cần học hỏi người Pháp ở việc trồng cây lấy bóng mát cho các đô thị nhiệt đới. Bleackley ghi nhận nhiều nhà cửa thương mại mới đang mọc lên, trong đó khách sạn đang được yêu cầu phải ngang với tiêu chuẩn các khách sạn sang ở châu Âu. Về nhà ở, Sài Gòn lúc đó đang thay thế nhiều ngôi nhà cũ kỹ, thiếu tiện nghi. Và tác giả dự báo, nếu kinh tế phát triển hơn, các biệt thự và bungalow đang có của Sài Gòn sẽ còn làm tăng giá trị đô thị này.

Sách A tour in Southern Asia của Horace Bleackley

Có lẽ nhiều người khi “dạo chơi” Sài Gòn xưa, qua những bức ảnh cổ đây đó trong bảo tàng hay sách báo và internet, cũng đã trải qua những cảm xúc và nhận định tương tự như Bleackley. Tuy nhiên, cần nhớ rằng, “Paris không chỉ xây trong một ngày” và “Paris trong rừng” - Sài Gòn vào thập niên 1920, chỉ mới có 60 năm xây dựng, so với một Paris - Kinh thành Ánh sáng đã có trước 200 năm. Từ những năm 1920-1930 trở đi, tên Sài Gòn trên bản đồ thế giới được biết đến nhiều hơn, người Pháp tự hào “tiếp thị” Sài Gòn bằng danh xưng hấp dẫn du khách là “Hòn ngọc Viễn Đông” (La perle de l’extrême - orient). Một viên ngọc trai quý trong chuỗi ngọc trai - các nước thuộc địa của nước Pháp. “Hòn ngọc” ấy ra đời là thành quả của những nỗ lực quy hoạch, xây dựng và chỉnh trang đô thị không ngừng nghỉ.

Những người kiến tạo một đô thị Sài Gòn hiện đại từ 1860, đã phát hiện kịp thời và phát triển những thế mạnh sẵn có của một thành phố vùng đồng bằng sông nước và gần biển. So với các vùng đất khác của Việt Nam, trong cùng thời gian đó, Sài Gòn là một thành phố trẻ, may mắn có đủ các yếu tố thiên thời - địa lợi- nhân hòa. Đặc biệt, Sài Gòn có được nguồn lực bản xứ đa dạng Bắc - Trung - Nam, hợp với Hoa, Khmer, Chàm, kết hợp với kinh nghiệm quản trị và nguồn vốn tài chính của Pháp và các nước khác.

Hơn thế nữa, quy hoạch và sự phát triển của Sài Gòn xưa còn thể hiện tầm nhìn xa rộng, tầm nhìn của một đô thị mở. Và dù là một đô thị nhỏ so với nhiều đô thị tân tiến cùng thời ở châu Á, chiếc khung tương lai của một Sài Gòn tăng trưởng, một Sài Gòn trở thành đô thị trung tâm, đô thị lớn nhất của Việt Nam và Đông Dương đã được định hình đúng đắn và xây đắp vững chắc. Ngay người Nhật, không ngẫu nhiên, từ năm 1941-1945 đã chọn Sài Gòn làm nơi đặt đại bản doanh chỉ huy chiến tranh toàn bộ khu vực Nam Thái Bình Dương.

         

Với tình hình một rừng cao ốc ngày càng phát sinh hỗn độn trên những vùng phát triển ổn định đã có, người ta có cảm giác các thế lực kim tiền đang thiết kế thành phố mới chứ không phải các nhà quy hoạch!

Sau năm 1945, trong 30 năm tiếp theo, rất tiếc do chiến tranh và những biến đổi chính trị - kinh tế khốc liệt và phức tạp, Sài Gòn không có được một thời kỳ phát triển bình thường. Nhiều lần, các kế hoạch và quy hoạch phát triển thành phố bị phá vỡ hay ngưng trệ. Dẫu sao, trong thời gian đầy nghịch lý khó khăn đó, một số ý tưởng mới thay đổi quy hoạch của Sài Gòn đã được đưa ra.

Chẳng hạn, đề án khá táo bạo của kiến trúc sư tài ba Ngô Viết Thụ (1960) muốn tạo dựng một Sài Gòn mới gồm ba khu vực hợp nhất giống như một chiếc máy bay (3). Trong đó, một cánh là khu vực Chợ Lớn, Nam Sài Gòn, một cánh là khu vực quận 1, quận 3 ven sông và mở rộng sang phía Đông Bắc. Còn thân chiếc máy bay - trung tâm hành chính và dân cư mới của Sài Gòn là khu vực đường Trần Hưng Đạo, sử dụng đất trống của trại lính lớn Ô-ma (3). Một số đề án khác cũng đã nêu ý tưởng hình thành một trung tâm đô thị mới ở Thủ Thiêm bên cạnh việc giữ gìn trung tâm đô thị cũ ở quận 1. Những ý tưởng đó đợi thời cơ hậu chiến để tiến hành, song thời cơ đó lại đổi khác.

Sau 4.1975, thành phố Sài Gòn (bao gồm Chợ Lớn) và tỉnh Gia Định được hợp nhất là TP.HCM với quy mô rộng lớn, có thêm cả huyện Cần Giờ - lần đầu tiên quản lý mặt tiền tiếp giáp biển (4). Tuy nhiên, vào những năm ấy, kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường bị xóa bỏ trên cả nước, thay vào đó là kinh tế chỉ huy và duy ý chí. Thêm nữa, tất cả các tỉnh thành đều bị “ngăn sông, cấm chợ”, Việt Nam bị bao vây và cô lập với thế giới bên ngoài. Trong bối cảnh đó, quy hoạch của thành phố lớn nhất nước lại được sắp xếp theo hướng tạo ra một đô thị có đầy đủ các ngành công - nông nghiệp như một “vương quốc tự cung tự cấp” toàn bộ, chứ không tập trung vào những mũi nhọn công nghiệp và dịch vụ và lợi thế có sẵn. Bản thân các nguồn lực quản trị, trí tuệ và tài chính của thành phố lúc đó cũng bị suy yếu và thất thoát khiến cho những ý tưởng quy hoạch mới và đúng, khó nảy sinh và khó thực hiện.

Bước vào thập niên 1990, khi Việt Nam mở cửa, thành phố giành được nhiều cơ hội và nguồn lực để hồi phục và lấy lại vai trò đã có. Định hướng phát triển của thành phố đã thay đổi, không còn dàn trải nhiều ngành nghề mà tập trung vào việc xây dựng một trung tâm công nghiệp và dịch vụ, đầu máy kinh tế cho toàn vùng và cả nước. Với định hướng đó, quy mô thành phố được mở rộng, địa giới hành chính các quận được sắp xếp lại, dân số gia tăng. Trong thời gian qua, thành phố đã làm được việc di dời các khu nhà ổ chuột dọc kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, rạch Bến Nghé - kênh Tàu Hũ và bắt đầu trả lại các dòng nước trong xanh. Thành phố có thêm nhiều cơ sở hạ tầng lớn lao như đường hầm qua sông, các xa lộ vành đai, các đường cao tốc, những cây cầu hiện đại.

Sài Gòn xưa vẫn trẻ đẹp trong Sài Gòn nay

Song hiện tại, hầu như thành phố đang phát triển một cách ồ ạt về tất cả các hướng, không giữ được hướng tập trung vào Đông Bắc như đã nêu từ sớm. Hạ tầng cơ sở của quận 1 và quận 3 vốn chỉ thiết kế cho nhu cầu phát triển của thế kỷ trước đang gánh chịu hàng trăm dự án cao ốc và nhiều công trình xây dựng mới được làm không đồng bộ và không khảo sát chu đáo. Các phân khu chức năng trong thành phố dường như đang hòa lẫn vào nhau, chỗ nào cũng trở thành cơ sở thương mại, làm ăn, hoặc nhà ở cao cấp. Việc phát triển đô thị mới và chỉnh trang đô thị cũ còn nhiều việc vẫn đang phác thảo, tranh luận. Tuy nhiên, với tình hình một rừng cao ốc ngày càng phát sinh hỗn độn trên những vùng phát triển ổn định đã có, người ta có cảm giác các thế lực kim tiền đang thiết kế thành phố mới chứ không phải các nhà quy hoạch!

Sài Gòn ngày nay đang “phình to” mọi lúc, mọi nơi về dân số, công trình xây dựng và công trình giao thông. Kéo theo đó là các vấn nạn khổng lồ về ô nhiễm, ách tắc và tai nạn đường sá, sân bay. Thêm nữa, thiếu thốn và mất mát các công trình văn hóa và an sinh xã hội. Trong đó, các mất mát ngày càng nhiều về các kiến trúc và cảnh quan di sản hay đẹp đã và đang được công chúng khẩn cấp báo động. Quả thật, cuộc dạo chơi Sài Gòn nay - đầu thế kỷ XXI không có được nhiều điều vui mừng và hứng khởi, như cuộc dạo chơi Sài Gòn xưa - đầu thế kỷ trước.

Nếu như 20 năm đầu của thế kỷ XX đã là một thời kỳ thăng hoa đẹp đẽ của “Paris trong rừng” thì mong thay 20 năm đầu của thế kỷ XXI và xa hơn, Sài Gòn sẽ giải quyết được những vấn nạn lớn lao nói trên để có được một thời kỳ thăng hoa sang trọng và nhân văn tương xứng. Lúc ấy, có thể một nhà văn nước ngoài nào đó khi đến đây sẽ thích thú gọi tên “Sài Gòn Thăng hoa” hay “Sài Gòn Ánh sáng” chăng?

Bài và ảnh Phúc Tiến

----------------------------------

(1) A tour in Southern Asia, tác giả: Horace Bleackley, xuất bản 1928, NXB John Lane The Bodley, London. Sài Gòn có duyên với thế giới Anh ngữ từ rất sớm. Năm 1806, ở London đã ra đời một quyển sách du ký đầu tiên bằng tiếng Anh kể chuyện Sài Gòn và Việt Nam là quyển Một cuộc du hành đến Xứ Đàng Trong 1792-1793 (A Voyage to Cochinchina in the Years 1792-1793). Tác giả là một chính khách và nhà văn Anh - Sir John Barrow, Năm 1955, tiểu thuyết Người Mỹ trầm lặng (The quiet American) của nhà văn Anh Graham Green được xuất bản, với câu chuyện chính diễn ra tại Sài Gòn, đã hai lần được Hollywood làm thành phim truyện.

(2) Bánh ngọt chiên, hình phẳng và tròn.

(3) Trại lính thời Pháp thuộc (Camp Aux Mares) được bao quanh bởi các đường nay là Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Viết Chánh, Cống Quỳnh. Hiện giờ, phần lớn vẫn còn là doanh trại công an và quân đội.

(4) Cần Giờ từ thời Pháp đến năm 1975 lần lượt trực thuộc Vũng Tàu, Gia Định, Bà Rịa, Vũng Tàu.

(5) Tạp chí Thế Giới Tự Do, tập 9, số 7-1960



 

» Nguyễn Huệ - 'đường vua' của Sài Gòn

» Ngày xưa có một chợ sách...

» Người vẽ một góc phố Sài Gòn xưa

» Sài Gòn trăm năm “nỗi lòng cư xá”

Viết phản hồi
(*)
(*)
Nội dung
CÁC TIN KHÁC